Sự kiện

Gặp gỡ nhà sản xuất Rahul Bali: Điện ảnh không biên giới


Khán giả thế giới không cần Việt Nam làm một bộ phim giống Hollywood. Họ cần câu chuyện chỉ Việt Nam kể được. Tại workshop “Điện ảnh không biên giới”, NSX Rahul Bali chỉ ra 4 câu hỏi chiến lược và mô hình phát triển IP để phim Việt ra biển lớn. Bài học từ Hàn Quốc, Ấn Độ và Hollywood là: xây hệ sinh thái từ một IP, không chỉ làm một bộ phim.

Ngày 28/08/2026 tại MTH Acaddemy Tp. Hồ Chí Minh, MTH Corporation tổ chức một buổi Mini workshop chủ đề: “Điện ảnh không biên giới” với diễn giả khách mời Nhà sản xuất phim, nhà ngoại giao văn hoá Ấn Độ, chuyên gia giám tuyển LHP quốc tế Rahul Bali, trong không gian thân mặt cùng nhiều khán giả khách mời quan tâm chương trình, Ấn phẩm Lăng kính Người nổi tiếng có 1 phỏng vấn chia sẻ cùng chuyên gia.

Nhà sản xuất, nhà ngoại giao văn hoá, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali

PV.LLNNT: Thưa ông Rahul Bali, từ kinh nghiệm của Ấn Độ cũng như những gì ông quan sát tại Hàn Quốc, Mỹ và các thị trường điện ảnh lớn, theo ông Việt Nam cần xây dựng mô hình phát triển ngành công nghiệp điện ảnh như thế nào trong 10 hay 15 năm tới để Việt Nam không những tăng số lượng phim sản xuất mà còn tạo được một hệ sinh thái bền vững gồm: Talent/Cast (diễn viên), nhà sản xuất, studio, nhà phát hành, film festival, đầu tư và thị trường quốc tế?

NSX, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali:

Theo tôi, câu hỏi quan trọng nhất đối với Việt Nam trong 10 hay 15 năm tới không phải là Việt Nam có thể sản xuất bao nhiêu bộ phim mỗi năm? mà phải là Việt Nam có thể xây dựng được bao nhiêu công ty, bao nhiêu nhà sản xuất, bao nhiêu tài năng, bao nhiêu IP phim có khả năng tồn tại, phát triển và cạnh tranh trong thị trường điện ảnh quốc tế?

Vì đây là hai cách tư duy hoàn toàn khác nhau, một nền điện ảnh mạnh không được xây dựng từ một vài bộ phim thành công mà nó được xây dựng từ một hệ sinh thái (Ecosystem), một nền công nghiệp điện ảnh thực thụ. Tôi cho rằng hệ sinh thái đó phải có ít nhất 7 mắt xích: Talent/Cast (diễn viên), Producer (Nhà sản xuất), Financing (nguồn đầu tư), Production/Studio (studio sản xuất), Distribution (Phát hành), Festival/Market (Liên hoan phim), International audience (Khán giả quốc tế), nếu một trong những mắt xích này yếu, toàn bộ ngành sẽ bị giới hạn.

Điều rất tích cực là điện ảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng đáng chú ý. Năm 2025, thị trường rạp Việt Nam đạt khoảng 5.600 tỷ đồng doanh thu trên 70 triệu vé, phim Việt chiếm khoảng 62% thị phần và có hơn 50 phim Việt được phát hành. Đây là một bước tiến rất lớn, nhưng lượt xem rạp bình quân vẫn khoảng 0,7 lượt/người/năm, nghĩa là thị trường còn rất nhiều dư địa tăng trưởng, và điều đó nói với tôi rằng Việt Nam đã bắt đầu có thị trường, nhưng bây giờ cần xây dựng một nền công nghiệp điện ảnh riêng cho Việt Nam.

Nhà sản xuất, Đạo diễn, diễn viên Mai Thu Huyền, phát biểu khai mạc workshop

PV. LLNNT: Việt Nam nên làm theo Bollywood, Hollywood hay Hàn Quốc?

NSX, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali:

Theo cá nhân tôi Việt nam không nên sao chép Bollywood, Hollywood hay Hàn Quốc, tôi cho rằng Việt Nam có thể học cấu trúc, nhưng không nên sao chép mô hình, như các bạn biết Hollywood mạnh về sản xuất studio, nguồn tài chính, IP phim và phát hành toàn cầu, Hàn Quốc mạnh ở sự kết hợp giữa chính sách quốc gia, phát triển tài năng, đầu tư tư nhân (private investment), đào tạo điện ảnh, các liên hoan phim và chiến lược xuất khẩu phim, chẳng hạn các hoạt động của KOFIC (Hội đồng điện ảnh Hàn Quốc) họ không chỉ tài trợ phim; họ còn hỗ trợ từ khâu phát triển, phim độc lập, phát hành, hợp tác sản xuất quốc tế, xúc tiến hỗ trợ bối cảnh địa điểm, xây dựng chợ phim cho tới đào tạo nhân lực, còn Ấn Độ lại mang đến một bài học khác như: Quy mô lớn, sự đa dạng, ngôn ngữ bản địa, hệ thống ngôi sao, tinh thần doanh nghiệp tư nhân, chỉ riêng năm 2025, Ấn độ có gần 3.000 phim được phát hành tại rạp; doanh thu ngành phim vượt 205 tỷ rupee và khoảng 390 phim được phát hành tại 40 quốc gia. Điều quan trọng là Ấn độ không phải một “Bollywood” như nhiều người nghĩ mà đó là rất nhiều nền điện ảnh ngôn ngữ khác nhau cùng tồn tại trong đó.

Việt Nam nên xây một mô hình của riêng mình mà mô hình đó là: Nhà nước tạo hạ tầng và chính sách, doanh nghiệp tạo thị trường, nhà sản xuất tạo IP, trường đào tạo điện ảnh tạo talent/cast (nhân lực/diễn viên), liên hoan phim tạo kết nối, các chợ phim tạo môi trường kinh doanh hợp tác sản xuất quốc tế, tạo cửa ngõ ra toàn cầu, đây cũng chính là tư duy tôi trình bày trong Cinema without borders.

Tôi đặc biệt lưu ý film festival không nên chỉ là “red carpet”, mà phải trở thành nơi filmmaker (nhà làm phim) gặp nhà sản xuất, nhà đầu tư, đại diện phát hành và các nền tảng OTT khác, để từ các hoạt động kết nối tiến tới mối quan hệ đối tác, sản xuất và phát hành.

Nhà biên kịch Trần Thái Minh Thư, hỏi giao lưu với chuyên gia điện ảnh Rahul Bali

PV. LLNNT: Nếu chọn ba ưu tiên quan trọng nhất cho việt nam hiện nay?

NSX, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali:

Ưu tiên thứ nhất: Phát triển dự án và phát triển nhân lực, diễn viên.

Việt Nam cần đầu tư mạnh vào kịch bản, sản xuất và xây dựng nhà sản xuất, chứ không chỉ diễn viên hay đạo diễn, một nền điện ảnh thiếu nền tảng phát triển sẽ liên tục phụ thuộc vào những dự án đơn lẻ.

Tôi muốn các chương trình phòng lab phát triển biên kịch (hay vườn ươm biên kịch), phòng lab dành cho nhà sản xuất (hay vườn ươm nhà sản xuất), phòng lab dành cho showrunner, các khóa học kinh doanh điện ảnh và các chương trình cố vấn quốc tế (Master class), được tổ chức thường xuyên quanh năm.

Ưu tiên thứ hai: Vốn đầu tư và hợp tác sản xuất quốc tế

Việt Nam cần xây dựng cơ chế để vốn tư nhân, quỹ đầu tư và nguồn vốn quốc tế có thể tham gia vào ngành điện ảnh thuận lợi hơn, thay vì để nhà sản xuất phim gần như tự xoay xở toàn bộ nguồn vốn. Muốn vậy, thị trường cần có các công cụ tài chính và cơ chế hỗ trợ chuyên biệt cho điện ảnh như: Quỹ đồng sản xuất (co-production fund), chính sách ưu đãi điện ảnh, nguồn vốn đảm bảo/bảo hiểm hoàn thành phim, tài trợ phần vốn còn thiếu (gap financing), quỹ đầu tư điện ảnh, chợ dự án…

Hãy nhìn cách Hàn quốc dùng các chương trình Phát triển dự án và hợp tác sản xuất quốc tế để đưa dự án ra quốc tế.

Ưu tiên thứ ba: Phát hành toàn cầu

Tôi thường nói với các nhà làm phim rằng: đừng bắt đầu nghĩ về việc phát hành quốc tế sau khi bộ phim đã hoàn thành, mà phải nghĩ ngay lúc viết kịch bản đã phải hỏi: Câu chuyện này có đi được không? Talent/diễn viên nào giúp nó đi được? Liên hoan phim nào phù hợp? Thị trường nào có thể bán? Khán giả nào sẽ xem? Nếu Việt Nam thay đổi được tư duy đó thì trong 10 hay 15 năm tới đây, vị thế điện ảnh Việt Nam có thể thay đổi rất đáng kể.

Công thức điện ảnh toàn cầu 

PV. LKNNT: Hiện nay khán giả toàn cầu có thể xem một bộ phim Hàn Quốc, Ấn Độ, Mỹ hay Đông Nam Á trên cùng một nền tảng. Theo ông, các nhà sản xuất Việt Nam nên chuyển đổi như thế nào từ tư duy làm phim chủ yếu cho thị trường trong nước sang tư duy “câu chuyện bản địa – khán giả toàn cầu”? Việt Nam nên phát triển ngành điện ảnh theo mô hình hệ thống hãng phim lớn, mô hình nhà sản xuất độc lập, mô hình đồng sản xuất quốc tế, mô hình phát triển thương hiệu nhượng quyền/IP, hay kết hợp nhiều mô hình? Và Việt Nam có thể học và áp dụng ngay những bài học nào từ Ấn độ, điện ảnh Hàn Quốc hoặc Hollywood?

NSX, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali:

Tôi nghĩ sai lầm phổ biến của các nền điện ảnh mới nổi là cố gắng làm phim giống phim quốc tế, theo tôi, đó gần như là con đường ngược, khán giả thế giới không cần Việt Nam làm một bộ phim giống Hollywood.

Hollywood đã làm Hollywood rất tốt, còn Hàn Quốc cũng không trở thành một hiện tượng toàn cầu bằng cách từ bỏ tính Hàn quốc và điện ảnh Ấn Độ càng không làm như vậy, khán giả toàn cầu cần ở Việt Nam là: Một câu chuyện mà chỉ Việt Nam mới có thể kể, nhưng bằng một cảm xúc mà cả thế giới đều có thể hiểu được nó, đó là khái niệm: “Local story, universal emotion, global packaging” (Câu chuyện bản địa, cảm xúc phổ quát, đóng gói mang chuẩn quốc tế)

Đạo diễn Nguyễn Điền Lan Chi, hỏi giao lưu với chuyên gia điện ảnh Rahul Bali

PV. LKNNT: Nhà sản xuất phim Việt Nam nên thay đổi từ đâu?

NSX, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali:

Tôi sẽ khuyên các nhà sản xuất đừng chỉ bắt đầu bằng câu hỏi: Bộ phim này có thể bán được bao nhiêu vé tại Việt Nam, mà cần đặt thêm bốn câu hỏi chiến lược khác như: Liên hoan phim nào có thể là nơi công chiếu ra mắt bộ phim? Thị trường/lãnh thổ nào có khả năng mua quyền khai thác bộ phim? Đối tác đồng sản xuất nào có thể tham gia dự án? IP này có thể tiếp tục phát triển thành series, remake, format hay nhượng quyền hay không?

Trong nội dung trình bày của tôi tại workshop: Điện ảnh không biên giới do MTH Academy tổ chức tôi đã đặt ra một quy trình rất thực tế cho việc làm phim xuyên biên giới đó là: Hãy tìm một câu chuyện, tìm kiếm đối tác, tìm bối cảnh địa điểm, tìm thị trường, đóng gói theo chuẩn quốc tế, xây dựng hành trình đưa ra toàn cầu, đó chính là tư duy kinh doanh của nhà sản xuất.

Công thức tư duy điện ảnh toàn cầu

PV. LLNNT: Mô hình phù hợp nhất với Việt Nam?

NSX, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali:

Việt Nam có lẽ không nên sao chép hoàn toàn mô hình studio system của Hollywood, nhưng cũng không nên chỉ dựa vào điện ảnh độc lập với các nhà sản xuất nhỏ, nguồn lực hạn chế, mô hình phù hợp nên là: Mô hình kết hợp do Nhà sản xuất dẫn dắt (Hybrid producer lead model)

Đây là mô hình trong đó nhà sản xuất giữ vai trò trung tâm, chủ động phát triển IP, xây dựng dự án, kết nối vốn, talent/cast, đối tác quốc tế và thị trường; còn studio, công ty truyền thông, nền tảng phát hành và nhà phát hành tham gia với vai trò cung cấp nguồn lực, có thể hiểu đơn giản là nhà sản xuất tạo ra và dẫn dắt tài sản trí tuệ; các đối tác khác cùng tham gia để biến IP đó thành sản phẩm có quy mô và thị trường.

Mô thức này gần với cách thị trường điện ảnh hiện đại đang phát triển, tại Ấn Độ các nền tảng kỹ thuật số hiện đã trở thành xương sống của toàn ngành truyền thông và giải trí. Năm 2025, ngành truyền thông và giải trí Ấn Độ đạt khoảng 2,78 nghìn tỷ rupee, còn phim giải trí đạt mức doanh thu kỷ lục hơn 200 tỷ rupee.

Nhà sản xuất, nhà ngoại giao văn hoá, chuyên gia điện ảnh Rahul Bali

Bài học ở đây là đừng xây một công ty chỉ để sản xuất phim, mà hãy xây một công ty sở hữu và khai thác một hệ sinh thái IP trong công nghiệp điện ảnh – giải trí, vì một IP có thể trở thành phim chiếu rạp, OTT series (nhiều tập phát hành trên các nền tảng streaming/OTT), âm nhạc (Bao gồm OST, soundtrack, ca khúc chủ đề, album nhạc phim, MV, concert…), sách (IP sách có thể được khai thác thành tiểu thuyết, truyện tranh, graphic novel, art book, sách hậu trường hoặc sách thiếu nhi, short form content (nội dung dạng ngắn trên TikTok, YouTube Shorts, Reels hoặc các nền tảng video ngắn), remake rights (quyền cho phép một nhà sản xuất ở thị trường khác làm lại bộ phim theo phiên bản địa phương), brand merchandising (hình ảnh, nhân vật và biểu tượng của IP lên các sản phẩm như áo, figure, đồ chơi, poster, phụ kiện, vật phẩm sưu tầm, stationery hoặc sản phẩm lifestyle), du lịch trãi nghiệm (biến bối cảnh, câu chuyện hoặc thế giới của phim thành trải nghiệm thực tế như film location tour, studio tour, triển lãm nhập vai, tour di sản, trải nghiệm ẩm thực, theme attraction hoặc tour theo dấu nhân vật). Hollywood làm điều này rất giỏi, còn Ấn Độ rất mạnh về bản quyền âm nhạc và khai thác ngôi sao, Hàn Quốc kết nối drama, âm nhạc, thời trang, ẩm thực và du lịch, tôi nghĩ Việt Nam hoàn toàn có thể xây một mô hình tương tự nhưng dựa trên Vietnamese IP.

MTH ACADEMY – CÔNG TY CỔ PHẦN HỌC VIỆN ĐÀO TẠO ĐIỆN ẢNH VẢ CÔNG NGHỆ M.T.H

Đơn vị tiên phong đào tạo AI Filmmaking tại Việt Nam

Địa chỉ HN: SH06 – Toà IP1, Imperial Plaza, 360 Giải Phóng, P. Phương Liệt, Hà Nội

Địa chỉ HCM: Lầu 4-5, 340 Nguyễn Thị Thập, Phường Tân Hưng, TP. HCM

Hotline: +84 866 684 066 Email: info@mthacademy.com

PV